Địa chỉ: 113/2D Trần Thị Trọng, Phường 15, Quận Tân Bình, TP.HCM

Email: cty.lawforlife@gmail.com

Hotline:090 9700 257

  • Trang chủ
  • Tranh chấp đất đai chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tranh chấp đất đai chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Năm 2004 nhà em có mua 1 mảnh đất của nhà ông Sự (diện tích 910m vuông với chiều ngang 26m và dài 35m. 26 m là chưa tính bờ rào, tính luôn là 27 m).

 

Đất này chưa có sổ đỏ, lúc mua 2 bên tiến hành làm giấy tay sang nhượng đất và có báo qua địa chính xã để làm chứng  lưu hồ sơ. Còn việc làm sổ đỏ là do nhà em đảm nhận khi có nhu cầu sử dụng mảnh đất (hiện giờ nhà em vẫn chưa làm sổ đỏ).

 

Từ ngày mua đến giờ nhà em chưa rào vì để đất trống bò nhà hàng xóm có cỏ ăn. Giờ nhà em rào lại thì dòng họ của nhà ông Sự lên giành đất (họ nói chưa có chữ kí của anh em) nhưng đất này do vợ chồng ông Sự khai phá, ông Sự có hộ khẩu riêng.

 

Ông Sự có nhu cầu bán thì nhà em mua (giá đất lúc ấy là 2 triệu đồng 1 mét). Vợ chồng ông Sự có hành vi năng lực dân sự đàng hoàng, trong giấy viết tay bên A là ba mẹ em, bên B là vợ chồng ông Sự. Mua bán sòng phẳng không hề tranh chấp lúc mua bán.

 

Vậy cho em hỏi, giờ đây dòng họ ông Sự giành đất nhà em thì việc này nên giải quyết sao ạ.

 

Về vấn pháp lý trên, LAW FOR LIFE xin đưa ra tư vấn sơ bộ cho khách hàng như sau:

 

Căn cứ pháp lý:

– Luật đất đai 2013.

Đầu tiên, do gia đình nhà mình chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (một cách gọi khác là Sổ đỏ) nên gia đình mình cần xem xét xin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi còn có đủ điều kiện được cấp. Để giải quyết trường hợp này, chúng ta nên tiến hành trình tự như sau:

 

Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở cho nên đầu tiên 2 bên tự hòa giải tại UBND cấp xã. Theo Luật đất đai 2013 quy định:

 

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

 

Trong trường hợp 2 bên không thể hòa giải được thì tiến giải quyết tranh chấp theo quy định sau:

“Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

3. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

 

Theo đó, anh có thể yêu cầu UBND cấp huyện giải quyết tranh chấp hoặc khởi kiện ra tòa án.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của LAW FOR LIFE, nếu khách hàng có bất kỳ thắc mắc hoặc yêu cầu cung cấp dịch vụ pháp lý xin vui lòng liên hệ LAW FOR LIFE để được tư vấn cụ thể!

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN LAW FOR LIFE
090 9700 257